Hope và wish cùng để diễn tả ước muốn, nhưng Hope và Wish khác khác nhau về văn phạm nhiều lắm, không ít bạn bối rối trong việc lựa chọn động từ nào phù hợp hơn: Hope hay Wish?

Sau đây Obieworld sẽ hướng dẫn đến các bạn cách sử dụng của hope và cách sử dụng của wish. Hãy đọc hết bài viết này nhé!

Hope

Hope được dùng để diễn tả tình huống có thể sẽ xảy ra hoặc có thể đã xảy ra. Còn wish diễn tả tình huống chắc chắn sẽ không xảy ra hoặc chắc chắn đã không xảy ra.

Ví dụ:

  • I hope that I did turn the light off before I go out. (Tớ hi vọng tớ đã tắt đèn trước khi ra khỏi nhà rồi. (không nhớ là đã tắt điện chưa, hi vọng là tắt rồi)
  • I hope your son will recover soon. (Tớ hi vọng con trai cậu sẽ nhanh bình phục).
  • I have to do my exam next week. I wish I could come to your party. I’m sorry. (Tớ phải làm bài thi tuần tới. Tớ ước gì tớ có thể tới bữa tiệc của cậu. Tớ rất tiếc).
  • I wish I could be there yesterday. (Ước gì tớ đã ở đó ngày hôm qua nhỉ.) (thực tế là tớ đã không ở đó)

Động từ sau hope có thể chia ở tất cả các thời, động từ sau wish không được chia ở thì hiện tại. Khi mệnh đề sau wish được chia ở quá khứ đơn, thì to be sẽ được chia là were ở tất cả các ngôi. (theo cấu trúc câu ước với wish)

Ví dụ:

  • I hope that you will come. (Tớ hi vọng cậu sẽ tới).
  • Oh look at my room, I wish that I had cleaned it yesterday. (Ôi nhìn cái phòng của mình này, mình ước gì đã dọn nó tứ hôm qua).
  • I wish that you could come.(Tớ ước gì cậu có thể tới.) (nhưng cậu không thể tới)
  • I wish she were there. (Tớ ước gì cô ấy ở đó.) (nhưng cô ấy không thể ở đó)

Wish

Động từ ở mệnh đề sau wish bắt buộc phải ở dạng điều kiện không thể thực hiện, nhưng điều kiện đó ở thời nào thì phụ thuộc vào chính thời gian của của bản thân mệnh đề chứ không phụ thuộc vào thời gian của wish.

Ví dụ:

  • He wished he would come to see me next Monday. (Anh ấy đã ước rằng sẽ tới thăm tôi vào thứ hai tới. (nhưng chắc chắn là không thể vì lý do gì đó)
  • He wishes he would come to see me next Monday. (Anh ấy ước rằng sẽ tới thăm tớ vào thứ hai tới. (chắc chắn không thể)

Cần phải phân biệt giữa wish trong câu giả định và wish thể hiện ý muốn trong các lời chúc hoặc ý muốn thông thường.

Ví dụ:

  • I wish that you could come. (Tớ ước gì cậu có thể tới.) (nhưng cậu không thể tới)
  • Oh look at my room, I wish that I had cleaned it yesterday. (Ôi nhìn cái phòng của mình này, mình ước gì đã dọn nó tứ hôm qua).

Động từ ở mệnh đề sau wish bắt buộc phải ở dạng điều kiện không thể thực hiện, nhưng điều kiện đó ở thời nào thì phụ thuộc vào chính thời gian của của bản thân mệnh đề chứ không phụ thuộc vào thời gian của wish.

Ví dụ:

  • He wishes he would come to see me next Monday. (Anh ấy ước rằng sẽ tới thăm tớ vào thứ hai tới.) (chắc chắn không thể)
  • He wished he would come to see me next Monday. (Anh ấy đã ước gì anh ấy sẽ tới thăm tôi vào thứ hai tới.) (nhưng chắc chắn là không thể vì lý do gì đó)

Cần phải phân biệt giữa wish trong câu giả định và wish thể hiện ý muốn trong các lời chúc hoặc ý muốn thông thường.

Ví dụ:

  • We wish you a happy birthday. (Mong rằng bạn có một sinh nhật vui vẻ).
  • I wish you to take me home. (Tôi muốn bạn đưa tôi về nhà).

Nguồn: Phân biệt “Hope” và “Wish” trong tiếng Anh

Qua nội dung trên, chắc hẳn bây giờ bạn đã nắm rõ cách sử dụng của hope và wish rồi phải không nào?

We hope this article is useful to you and we wish you would be an excellent English speaker in the foreseeable future. (Chúng tôi hy vọng bài viết này hữu ích cho bạn và chúng tôi ước bạn sẽ trở thành một người nói tiếng Anh xuất sắc trong tương lai gần.)